Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Phát hiện sớm dị tật thai nhi

Làm thế nào để phát hiện được các bất thường của thai nhi và nếu chẳng may thai nhi bị mắc một dị tật nào đó sẽ điều trị như thế nào?
Những dị tật có thể được phát hiện sớm
Bất thường về nhiễm sắc thể: Đây là những bất thường về di truyền (bệnh Down, hội chứng Turner...), những bất thường này thường để lại những hậu quả nặng nề cho cuộc sống sau này của đứa trẻ, hiện nay để phát hiện những bất thường này cần phải làm rất nhiều xét nghiệm sàng lọc như siêu âm sớm (đo độ dày da gáy thai lúc 12-14 tuần), xét nghiệm về máu (double tests, triple tests...), chọc dò nước ối...
 Ảnh minh họa
Bất thường về hệ thần kinh thai: Nhiều dị tật liên quan đến hệ thần kinh, có những dị tật có thể phát hiện được sớm trong 3 tháng đầu (thai vô sọ, não úng thủy, não lộn ngoài...); có những dị tật phát hiện muộn hơn như não nhỏ, bất thường về cấu trúc não. Các dị tật này có thể phát hiện được trong 3 tháng giữa của thai kỳ bằng siêu âm, xét nghiệm máu, chụp cộng hưởng từ.
Bất thường về hệ tim mạch: Chiếm tỷ lệ 0,4 - 0,8% trẻ đẻ ra, thường được phát hiện vào 3 tháng giữa thời kỳ mang thai. Các dị tật về tim thường có tính chất gia đình, vì vậy cần phải có thăm khám kỹ đối với những người có tiền sử gia đình và bản thân mắc bệnh. Những bệnh thường gặp là thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, đảo gốc động mạch...
Ngoài ra còn có thể phát hiện được rất nhiều các dị tật ở các cơ quan khác thông qua thăm khám và các sàng lọc trước sinh.
Phòng tránh những dị tật này bằng cách nào?
Theo thống kê, tỷ lệ thai mắc các dị tật chiếm khoảng 2-3% các trường hợp trẻ đẻ ra, tuy nhiên phần lớn là các dị tật có thể điều trị được (sứt môi, hở hàm ếch, một số dị tật về tim, hệ tiêu hóa, xương khớp...). Với sự phát triển của khoa học ngày nay chúng ta có thể phát hiện được nhiều dị tật rất sớm từ khi tuổi thai còn nhỏ và có thể điều trị được một số dị tật mà trước đây không can thiệp được. Điều này có thể giúp cho các thầy thuốc quyết định sớm cách xử trí đúng đắn để giảm thiểu các tai biến cho mẹ và con. Những phụ nữ trước khi chuẩn bị mang thai cần đi khám sức khỏe toàn diện, điều trị dứt điểm những bệnh đang mắc, cần được theo dõi chặt chẽ những bệnh mạn tính như tim mạch, hen, dị ứng... trong suốt quá trình mang thai và sau sinh.
Nên tiêm phòng những loại bệnh dễ gây dị tật thai nhi như cúm, thủy đậu, Rubella 3 tháng trước khi có thai. Trong thời gian có thai cần định kỳ kiểm tra sức khỏe thai nghén, nếu phát hiện những bất thường sẽ được tư vấn, nếu dị tật có thể điều trị được thì sau khi sinh cần đưa trẻ đến các trung tâm phẫu thuật nhi để được điều trị sớm.
Cần ăn uống đầy đủ dưỡng chất, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh lao động quá sức, tránh stress.                 \

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Chế độ ăn uống phòng chống cao huyết áp

Cao huyết áp (CHA) là một căn bệnh thầm lặng nhưng có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: suy tim, suy thận, nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Bệnh có thể diễn tiến qua thời gian dài mà không có biểu hiện gì cụ thể. Có đến trên 1/3 số người bị CHA mà không biết mình bị bệnh. Do đó, việc tìm hiểu những nguy cơ và thay đổi lối sống và chế độ ăn uống có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống CHA.
Ăn ít muối giúp giảm áp huyết
Một nghiên cứu của Viện Tim, Phổi và Huyết học Quốc gia ở Mỹ, liên quan đến những chế độ ăn uống ngăn chặn CHA DASH (dietary approaches to stop hypertension) đã cho thấy, chỉ cần ăn giới hạn muối trong khoảng 1,5g/ngày sẽ làm giảm đáng kể huyết áp ở cả 2 nhóm người, nhóm ăn theo chế độ thông thường cũng như nhóm ăn theo chế độ kiểm soát huyết áp. Càng ăn ít muối huyết áp càng thấp. Trong khi đó, một khảo sát gần đây đã cho biết, người Việt chúng ta đang có khuynh hướng ăn khá nhiều muối. Lượng muối trung bình mỗi người tiêu thụ từ 18- 22g mỗi ngày, trong khi lượng khuyến cáo không quá 5g. Người đang bị CHA chỉ nên ăn khoảng 2-3g mỗi ngày. Ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm ở bàn ăn, cần cẩn thận với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao.
 Chất xơ trong rau củ quả giúp giảm độ mỡ máu và điều hòa huyết áp
Muối thường được đề cập trong chế độ ăn hàng ngày là muối ăn sodium chloride (NaCl). Tuy nhiên, có nhiều loại muối khác có cùng gốc sodium tồn tại trong các loại thức ăn, thức uống công nghiệp như: monosodium glutamate (bột ngọt), sodium citrate, sodium bicarbonate… cũng có tác hại tương tự NaCl khi dùng nhiều. Theo Drug Bulletin, FDA, cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ cho biết những loại nước ngọt có gas, các loại bia có hàm lượng Na còn cao hơn so với nhiều loại thực phẩm công nghiệp khác. Đừng quên các loại thuốc tiêu mặn, bột nở, bột nổi, loại bột làm sủi bọt cũng thuộc nhóm muối gốc Na.
Rau quả, ngũ cốc giúp giảm độ mỡ và điều hòa huyết áp
Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy, chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lức, bắp lức, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp. Các chất xơ, nhất là chất xơ tan trong nước, có khả năng hút nước và trương nở lên đến 8-10 lần trọng lượng ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc hại ra khỏi cơ thể. Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những acid mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột. Điều này buộc cơ thể huy động đến kho dự trữ cholesterol ở gan để tạo ra những acid mật mới dẫn đến hạ độ cholesterol. Những nghiên cứu của các bác sĩ Michael Murray, Joseph Pizzorno và Dean Ornish, những nhà khoa học về liệu pháp dinh dưỡng đối với bệnh tim mạch đều khẳng định chế độ ăn nhiều chất xơ giúp giảm mạnh các chứng CHA và ngăn chặn hiệu quả các cơn đau tim. Ngoài chất xơ và những vi chất khác, ăn nhiều rau quả giúp bảo đảm chế độ nhiều potasium (kali) và ít sodium, yếu tố vô cùng quan trọng việc ổn định huyết áp. Người ta cho rằng, nguyên nhân tỷ lệ CHA rất thấp (chỉ khoảng 1%) ở thời sơ khai và những người ăn chay là do họ ăn nhiều rau quả. Nhiều loại rau quả như: khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng kali rất cao. Đặc biệt, chuối còn có tỷ lệ potassium/sodium cực cao (396/1). Do đó, chuối có tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ. Lượng potassium cao còn giúp bù trừ lại phần nào khuynh hướng ăn vào lượng muối nhiều hơn khuyến cáo.
Ăn nhiều cá, hải sản, giảm các loại thịt đỏ
Thịt và mỡ động vật, nhất là các loại thịt đỏ như: thịt heo, thịt bò và các loại sữa và trứng có hàm lượng mỡ bão hòa cao là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa. Do đó, các nhà khoa học khuyên nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật.
Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyên chỉ nên giới hạn khẩu phần chất béo trong khoảng 30% năng lượng ăn vào hàng ngày. Theo TS. Dean Ornish, một nhà tim mạch học nổi tiếng thế giới về phương pháp “đảo ngược bệnh tim mạch” bằng liệu pháp tự nhiên, những người bệnh tim không nên ăn quá 10% chất béo. Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân. Acid béo omega-3 trong cá và các loại hạt có tác dụng làm hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt và giảm nguy cơ máu đông. Những loại hạt này còn có nhiều loại khoáng chất cần thiết để điều hòa huyết áp như: magie. Ngược lại, thịt và trứng có nhiều chất mỡ bão hòa làm gia tăng lượng cholesterol xấu (LDL), đồng thời làm giảm lượng cholesterol tốt (HDL) có khả năng làm sạch lòng mạch.
Các loại đậu, nhất là đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành với nhiều chất xơ, chất khoáng và những chất chống oxy hóa là một nguồn chất đạm và chất béo lý tưởng cho phòng chống CHA.
Ngoài ra, ăn vài tép tỏi trong mỗi bữa ăn có tác dụng kiện tỳ, giải độc, tăng cường lưu thông khí huyết, hỗ trợ làm hạ huyết áp và cải thiện độ mỡ trong máu. Những người có khuynh hướng ăn nhiều thịt và mỡ động vật, thỉnh thoảng nên có chế độ ăn thanh lọc cơ thể. Có thể là nhịn ăn một buổi mỗi tuần và thay bằng uống nước trái cây. Theo BS. Frank Sacks, chuyên gia Dinh dưỡng Trường Đại học Y Harvard: “Chỉ cần không ăn thịt và những sản phẩm từ sữa vài lần mỗi tuần. Nếu mọi người đều làm được điều này, tỷ lệ bệnh tim mạch sẽ giảm đáng kể”.
Thường ăn canh mộc nhĩ, khổ qua cũng có tác dụng rất tốt để giải độc, cải thiện độ mỡ trong máu và làm hạ huyết áp. Mộc nhĩ đen hoặc trắng 12g, khổ qua (mướp đắng) 50g, đậu phụ 200g. Thêm gia vị vừa đủ, nấu canh ăn hàng ngày.
Ngoài ra, người CHA được khuyên không nên hút thuốc, uống rượu. Hút thuốc làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp và làm giảm lượng oxy cần thiết đến các tế bào và các cơ quan. Đối với rượu, nhiều nghiên cứu gần đây đều cho thấy, mỗi ngày dùng khoảng 100g rượu vang đỏ sẽ có lợi cho hoạt động của hệ tim mạch.
Nói chung, trường hợp nghiêm trọng, người bệnh cần tìm đến những biện pháp cấp cứu của y học hiện đại. Tuy nhiên, việc điều trị căn cơ và tận gốc bệnh CHA phải dựa vào một lối sống lành mạnh gồm: chế độ ăn uống hợp lý, vận động đều đặn và thực hành thư giãn.

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Phòng ngừa thai ngoài tử cung

Hiện tượng có thai ngoài tử cung (TNTC) đang tăng mạnh trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân như tình trạng nạo phá thai bừa bãi, thuốc lá và viêm nhiễm vòi trứng do các bệnh lây lan qua đường tình dục...
TNTC là gì?
TNTC là hiện tượng trứng thụ tinh, làm tổ và phát triển ở vị trí ngoài buồng tử cung. Vị trí thông thường của TNTC là ở vòi trứng (90%), ngoài ra thai còn có thể nằm ở một số vị trí khác như: ở buồng trứng (1%), cổ tử cung (0,5%) hoặc trong ổ bụng mẹ… Trong đó, vị trí TNTC ở ngay chỗ nối giữa vòi trứng và tử cung là nguy hiểm nhất, vì khó chẩn đoán được sớm. Khi thai vỡ sẽ gây mất máu nhiều và nhanh, ảnh hưởng đến tính mạng và khả năng có thai sau này của sản phụ.
 Diễn biến của thai ngoài tử cung.                           TNTC vỡ gây xuất huyết.
Nguyên nhân dẫn đến TNTC
Bình thường, thai sẽ làm tổ ở trong buồng tử cung, tuy nhiên tất cả những yếu tố ngăn cản hay làm chậm trễ sự di chuyển của trứng từ nơi thụ tinh vào đến buồng tử cung đều có thể gây nên TNTC. Thông thường, có 3 nhóm nguyên nhân chính gây nên hiện tượng TNTC.
Nhóm 1: viêm nhiễm vòi trứng
Viêm nhiễm vòi trứng sẽ gây tắc, hẹp vòi trứng và dễ gây ra TNTC. Viêm nhiễm vòi trứng thường do bệnh lây truyền qua đường tình dục gây nên như trực khuẩn lậu hay bệnh do chlamydia trachomatis. Trước khi bị viêm phần phụ, bệnh nhân thường bị bít vòi trứng hoàn toàn dẫn đến vô sinh. Nếu có điều trị thuốc, vòi trứng cũng bị hẹp lại dễ dẫn đến TNTC.
Ngoài ra, trực khuẩn lao cũng có thể làm hẹp vòi trứng, gây nên tình trạng TNTC.
Nạo phá thai cũng là một nguyên nhân gây viêm nhiễm vòi trứng.
Nhóm 2: các bệnh phụ khoa như: khối u phần phụ, dị dạng bẩm sinh vòi trứng…
Vòi trứng có thể bị tắc hoặc hẹp bởi bệnh lạc nội mạc tử cung, khối u phần phụ chèn ép vòi trứng, những phẫu thuật lên vùng bụng gây dị dạng vòi trứng như: vòi trứng bị kéo dài, bị gập góc… hoặc những tác động trực tiếp lên vòi trứng từ trước như: triệt sản, nối vòi trứng…
Ngoài ra, vòi trứng còn có thể bị tắc/hẹp bẩm sinh.
Nhóm 3: chất nicotin
Các nghiên cứu cho thấy, thuốc lá không chỉ làm chậm và khó thụ thai, sảy thai tự nhiên mà còn gây nên hiện tượng TNTC ở các sản phụ.
Chất nicotin có trong thuốc lá làm hỏng các nhung mao phủ trên các thành ống và làm giảm cử động của các vòi trứng, gây khó khăn cho quá trình trứng thụ tinh tiến về tử cung. Từ đó dẫn đến trứng làm tổ trong vòi trứng và phát triển thành TNTC, gây nguy cơ vỡ vòi trứng. Những phụ nữ hút từ 10 điếu thuốc/ngày trở lên có nguy cơ TNTC gấp 1,5 lần người khác.
Triệu chứng TNTC
Có 3 triệu chứng chính để chẩn đoán sớm TNTC:
Rối loạn kinh nguyệt, ốm nghén:
Sản phụ bị tắt kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt như: rong kinh, trễ kinh. Cũng có trường hợp, sản phụ sau khi tắt kinh còn bị ra máu bất thường, máu thường màu đỏ tươi.
Ngoài ra, sản phụ còn bị ốm nghén biểu hiện ở việc buồn nôn và nôn.
Đau bụng:
Nguyên nhân thường là do tình trạng căng dãn của vòi trứng, gây ra đau bụng âm ỉ ở một bên vùng bụng dưới rốn. Ban đầu sản phụ có thể thấy đau âm ỉ, tuy nhiên cơn đau sẽ tăng dần, và sẽ đau dữ dội khi vòi trứng bị vỡ. Lúc đó, sản phụ sẽ có cảm giác mệt lả, da xanh xao, đôi khi còn dẫn đến tình trạng hôn mê. Trường hợp xuất huyết nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong ở sản phụ do không tự cầm máu được.
Xuất huyết âm đạo:
Xuất huyết âm đạo thường xuất hiện muộn hơn 2 triệu chứng trên, do khi thai phát triển trong vòi trứng có thể gây rạn nứt. Sản phụ có thể thấy ra một ít máu sậm màu và kéo dài.
Nhiều khi, xuất huyết xuất hiện gần với ngày có kinh (theo chu kỳ), làm cho sản phụ dễ nhầm lẫn với kinh nguyệt, hay rong kinh. Một số trường hợp sau khi đi điều hòa kinh nguyệt hoặc nạo thai về thì tiếp tục ra huyết âm đạo kéo dài, đau bụng ngày càng tăng. Siêu âm có thể thấy có khối nhỏ cạnh tử cung, đôi khi còn thấy tim thai đập, có dịch trong bụng thì cũng rất có thể là do TNTC.
Lưu ý: sẽ rất nguy hiểm vì với những triệu chứng như trên, người phụ nữ có thể nhầm lẫn với việc mình bị rong kinh, rối loạn kinh nguyệt hoặc bị lẫn với triệu chứng có thai giai đoạn đầu. Những dấu hiệu lâm sàng của việc ra máu âm đạo và đau bụng trong thai kỳ khá giống hiện tượng dọa sẩy thai và thai chết lưu nên cần được các bác sĩ khám và tiến hành siêu âm kỹ.
Điều trị TNTC
Ngay khi phát hiện các triệu chứng trên, sản phụ nên đến bệnh viện để có phương pháp điều trị thích hợp. TNTC càng được phát hiện sớm thì việc điều trị càng đơn giản. Với những khối thai chưa vỡ và có đường kính 3cm, bác sĩ có thể chỉ định tiêm một loại thuốc vào khối thai nhằm làm khối thai không tiếp tục phát triển sai vị trí và tự tiêu đi. Với những khối thai to hơn, phương pháp thông dụng là phẫu thuật mở hoặc phẫu thuật nội soi. Phẫu thuật nội soi có ưu điểm là làm giảm nguy cơ bị dính vùng bụng sau khi mổ. Tuy nhiên, nếu khối thai đã bị vỡ hoặc có quá nhiều máu trong ổ bụng bắt buộc bác sĩ phải tiến hành mổ hở. Sau khi điều trị, sản phụ vẫn có thể có thai lại như bình thường nhưng khả năng tái phát TNTC có thể trên 10%. Với trường hợp bị viêm nhiễm gây tắc hẹp vòi trứng thì khả năng này thậm chí còn cao hơn.
TNTC tái phát có thể lặp lại trên vòi trứng còn lại, trên chỗ mở của vòi trứng lần trước (nếu chưa bị cắt) hay trên mỏm cụt của vòi trứng đã bị cắt.
Cách phòng ngừa TNTC
Cách tốt nhất để phòng ngừa TNTC là người phụ nữ nên giữ vệ sinh tốt, đặc biệt trong kỳ kinh nguyệt, sau khi hay đang trong thời kỳ cho con bú; hạn chế nạo phá thai; phòng ngừa viêm nhiễm sinh dục do các bệnh lây truyền qua đường tình dục (chung thủy 1 vợ -1 chồng, dùng bao cao su khi quan hệ) và chống viêm nhiễm sau khi sinh cũng như sau khi sảy thai.
Nếu phát hiện có hiện tượng khí hư bất thường, người phụ nữ nên đi khám phụ khoa để điều trị sớm. Điều trị càng muộn, nguy cơ viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung dẫn đến viêm nhiễm tử cung, vòi trứng càng cao, gây ra hậu quả TNTC.
Đặc biệt với những sản phụ đã điều trị TNTC và muốn có thai trở lại, thời gian cần thiết để các chức năng sinh sản ổn định trở lại ít nhất là 1 năm. Đồng thời khi đã có thai, sản phụ phải đi khám thai đều đặn và có sự theo dõi của bác sĩ.
Các sản phụ cũng nên tích cực điều trị bệnh viêm khoang chậu và chứng viêm ống dẫn trứng, để ngăn chặn tình trạng TNTC.

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Làm sao để hết khó chịu trong những “ngày ấy”?

Hàng tháng, trong khoảng thời gian từ một tuần lễ đến mười ngày trước khi có kinh là tôi thấy khó chịu, mệt mỏi vô cùng. Nào đau bụng dưới, đau ngang thắt lưng, rối loạn tiêu hóa, hay bực bội cáu gắt. Tôi bị làm sao thế? Có thuốc chữa không?
Lê Ngọc Hà (Thái Bình)
Những biểu hiện trên được gọi chung là Hội chứng tiền kinh nguyệt (TKN). Hội chứng xảy ra trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ ở mọi lứa tuổi và chấm dứt khi mãn kinh. Nguyên nhân chưa được xác định nhưng các nghiên cứu đều đồng ý rằng đây là rối loạn có thực với căn bản sinh học, chứ không phải hoàn toàn có tính cách tâm lý, hoặc tưởng tượng.
Theo Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ, 85% phụ nữ có TKN trong khoảng 400 chu kỳ kinh nguyệt, kể từ khi kinh nguyệt xuất hiện lần đầu ở tuổi dậy thì cho tới khi cao tuổi, mãn kinh. Ở mỗi người, mức độ của hội chứng này khác nhau. Việc điều trị hiện nay mới chỉ nhằm giảm thiểu các triệu chứng khó chịu, chứ không có thuốc để trị dứt rối loạn. Ngoài ra, không có phương thức nào có thể áp dụng chung cho tất cả mọi người. Do đó mỗi người chỉ có thể tự mình tìm ra cách làm giảm khó chịu như giảm lượng thức ăn, giảm lượng đạm, chất béo, lượng muối, tăng lượng rau củ quả, chia nhỏ bữa ăn, bổ sung một lượng vừa phải vitamin B1, B2, B6, E, chất khoáng... Nếu đau bụng nhiều có thể dùng một chút thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol, ibuprofen, naproxen nhưng tuyệt đối không dùng aspirin. Nếu tình trạng trầm trọng thì nên đến bác sĩ để được trợ giúp. Khi đó các bác sĩ có thể chỉ định một vài loại thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm với liều thấp 1 - 2 tuần lễ trước khi hành kinh để giảm buồn rầu lo lắng, dịu tinh thần hoặc thuốc lợi tiểu tiện để làm bớt sưng bàn tay bàn chân.
Khi có các hội chứng TKN quá trầm trọng như đau bụng quằn quại, kéo dài, rối loạn tiêu hóa hoặc kèm theo nhiều rối loạn cùng lúc thì các bác sĩ có thể dùng thuốc ngăn chặn sự rụng trứng để người bệnh không có kinh trong kỳ kinh đó.



http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Có thể chữa khỏi hẳn luput ban đỏ?

Cháu năm nay 27 tuổi. Cách đây 2 năm cháu bị bệnh luput ban đỏ hệ thống, đã điều trị khỏi. Nhưng nay bệnh phát lại, thỉnh thoảng vẫn nổi từng vạt đỏ trên mặt. Xin bác sĩ cho biết, bệnh này có thể chữa khỏi hẳn được không? Cháu phải kiêng những thức ăn gì?
Vương Thanh Hiền (Lạng Sơn)
Luput ban đỏ hệ thống là bệnh mạn tính, với các thương tổn da nổi bật ở vùng mặt. Bệnh thường gặp ở nữ giới tuổi sinh sản. Do bệnh có tỷ lệ tử vong khá cao, nhiều người cho rằng bị luput ban đỏ hệ thống là lãnh án tử hình. Thực ra, nếu được điều trị sớm, cuộc sống của người bệnh sẽ được đảm bảo. Luput ban đỏ hệ thống diễn biến theo nhiều đợt, đợt sau nặng hơn đợt trước, với các biểu hiện ở nhiều hệ cơ quan như da, phổi, tim, thận, huyết học... (vì vậy mới có tên là bệnh hệ thống). Một người được xác định là bị bệnh này nếu có ít nhất 4 trong 11 biểu hiện sau: ban hình cánh bướm trên mặt; ban dạng đĩa; nhạy cảm ánh sáng; viêm loét niêm mạc miệng; viêm khớp không biến dạng; tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim; tổn thương thận (protein niệu, trụ niệu, creatinin cao); rối loạn tâm thần kinh; thiếu máu; rối loạn miễn dịch; phát hiện tự kháng thể (kháng thể kháng nhân). Do bệnh luput đỏ thường có những đợt tái phát và giảm bệnh một cách tự nhiên, vì thế, việc điều trị luput ban đỏ hệ thống nếu được tiến hành muộn, không đúng, không có hướng điều trị lâu dài và tích cực phòng ngừa các cơn tái phát thì hiệu quả sẽ rất thấp; bệnh ngày một nặng, dẫn đến tử vong. Ngược lại, kết quả sẽ rất tốt nếu bệnh được điều trị sớm, tích cực, lâu dài, đúng hướng, dù bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn. Bên cạnh việc dùng thuốc, bệnh nhân luput ban đỏ cần có những biện pháp phòng bệnh tái phát, đặc biệt là chú ý không để ánh nắng mặt trời tiếp xúc trực tiếp với da; đi khám lại theo hẹn của bác sĩ. Nếu bệnh tái phát thì đi khám càng sớm càng tốt. Bệnh luput ban đỏ không cần phải kiêng khem trong ăn uống.



http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Chữa khô da

Đa số khô da bong vảy vào mùa đông khi thời tiết trở nên hanh khô, về mùa hè thì da trở lại bình thường. Tình trạng khô và nứt nẻ bàn tay, bàn chân ít gặp ở mùa hè nhưng đối với những người mắc bệnh viêm da cơ địa hoặc các thành viên trong gia đình có cơ địa dễ dị ứng hoặc những người do nghề nghiệp, công việc phải tiếp xúc với các chất tẩy rửa, nước... Da bàn tay, bàn chân luôn bị khô, thô ráp. Trong các trường hợp nặng có thể bị khô da quanh năm, kể cả vào mùa hè. Lúc đầu là các điểm khô da và bong vảy nhỏ sau phát triển rộng dần và liên kết với nhau tạo thành từng mảng lớn hoặc toàn bộ lòng bàn tay, bàn chân bị bong vảy và đỏ lên. Nền da ở dưới có thể ẩm ướt, có các mụn nước do viêm kèm theo hoặc nền da đỏ khô. Nền da dưới lớp vảy bề mặt đỏ hồng, nhăn nheo. Nếu bệnh nhân không chăm sóc da đúng cách hoặc bong da nhiều thì có thể xuất hiện các vết nứt nẻ da. Nếu nứt sâu thì có thể gây chảy máu.
 Biểu hiện khô da.
Thường thì bệnh nhân không ngứa nhưng nếu có viêm da nhiều thì bệnh nhân sẽ bị ngứa. Kèm theo bệnh nhân có thể bị các đám tổn thương viêm da ở các vùng da khác trên cơ thể. Để phòng ngừa chứng khô da, cần lưu ý:
Chăm sóc da: Không nên bóc vảy, gãi, chà xát, ngâm nước, sử dụng xà phòng. Hạn chế rửa tay, mỗi ngày chỉ nên rửa chân một lần khi tắm và lưu ý luôn giữ chân tay khô ráo. Có thể chỉ cần rửa tay chân bằng nước máy sạch và cũng có thể dùng xà phòng rửa tay, chân làm ẩm da, dịu da như oilatum, physiogel...
Điều trị tại chỗ: Có thể bôi các chế phẩm làm mềm da, ẩm da, dịu da ngày vài lần như cream vitamin E, skincare-U, lacticare... Có thể bôi một trong các chế phẩm có steroid như: lorinden A, flucinar, gentrisone, fobancort... ngày một lần trong 1-3 tuần. Không tự ý bôi các chế phẩm này dài ngày quá hoặc không theo chỉ định của bác sĩ vì có thể gây teo da. Nếu có mụn nước nhiều, ngứa nhiều kèm theo nền da viêm thì phải dùng một đợt thuốc kháng sinh và một trong các thuốc kháng histamin như: phenergan hoặc loratadin, có thể uống một đợt vitamin E hoặc vitamin C theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa da liễu.
Ngoài ra, người bệnh nên uống nhiều nước, ăn bổ sung hoa quả, rau xanh

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Mùa hè cẩn thận với bệnh nhiễm nấm sinh dục

Viêm nhiễm cơ quan sinh dục do nấm hay còn gọi là nhiễm nấm âm đạo do một loại nấm có tên Candida Albican gây ra. Loại nấm này thường ký sinh ở một số nơi trên da và bên trong âm đạo của người phụ nữ. Tuy nhiên, môi trường hơi acid trong âm đạo đã giữ cho nấm không phát triển. Nếu vì một lý do nào đó môi trường này bị thay đổi, mất cân bằng chẳng hạn như bị acid hoá, nấm sẽ bùng phát và gây nên chứng nhiễm nấm âm đạo. Đặc biệt, vào mùa hè nắng nóng, nhiệt độ cơ thể tăng cao cộng thêm chị em phải lao động ngoài trời với trang phục bó sát người chính là điều kiện thuận lợi cho nấm sinh sôi và dễ lây lan ra bên ngoài vùng kín.
Ai có nguy cơ nhiễm nấm cao nhất?
Môi trường âm đạo thường thay đổi mỗi khi chị em đến kỳ kinh nguyệt, phụ nữ mang thai, mắc bệnh đái tháo đường, dùng thuốc kháng sinh nhiều... Ngoài ra, phụ nữ thời mãn kinh lượng estrogen giảm mạnh khiến cơ thể thiếu nội tiết hay những người bị suy kiệt cơ thể, mất nhiều máu hoặc suy giảm hệ miễn dịch (người bị AIDS, lao...) đều dễ bị nhiễm nấm. Những phụ nữ sống ở vùng thôn quê, ngoại thành bị nhiễm nấm cơ quan sinh dục nhiều. Nguyên nhân chủ yếu do trong quá trình lao động, chị em thường phải ngâm mình dưới nước nhiều giờ, tiếp xúc với nguồn nước bẩn... vệ sinh vùng kín chưa tốt, tự ý mua thuốc rửa, thuốc đặt mà không theo chỉ định của bác sĩ.
Cần đến các cơ sở y tế ngay nếu phát hiện biểu hiện khác thường và nghiêm túc làm theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị. (Ảnh có tính minh họa).
Một số dấu hiệu khi bị nhiễm nấm
Những bệnh nhân bị nhiễm nấm thường có những biểu hiện như: ngứa rát âm đạo, âm hộ, tiểu rát, ra nhiều khí hư sền sệt trắng đục như sữa và có mùi chua, cảm thấy đau ở hai hố chậu... Khi phát hiện những biểu hiện khác thường như trên cần phải đến các cơ sở y tế để kiểm tra ngay nhằm sớm có phương pháp điều trị thích hợp. Tránh trường hợp chà xát (do ma sát với quần áo...) lâu ngày khiến nấm lây lan rộng khắp vùng kín và hai bên bẹn. Ngoài ra, nếu để lâu, bệnh cũng dễ biến chứng nguy hiểm hoặc trở thành mạn tính rất khó điều trị dứt điểm.
Về điều trị
Khi bị nhiễm nấm tùy thuộc vào mức độ bị bệnh, bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc uống, thuốc đặt trong âm đạo hoặc kết hợp với thuốc bôi thoa bên ngoài. Người bệnh phải kiên trì và làm đúng lời dặn của bác sĩ mới có hiệu quả vì có nhiều trường hợp cơ thể người bệnh sinh ra chất kháng thuốc hoặc bị tái nấm rất khó điều trị khỏi hoàn toàn. Không quan hệ tình dục trong giai đoạn điều trị nấm. Vì điều này sẽ giảm hiệu quả của thuốc và lây cho chồng và bạn tình. Với phụ nữ mang thai bị nhiễm nấm cũng rất nguy hiểm vì có thể gây sảy thai, sinh non, nhẹ cân... Do đó, nếu phát hiện người mẹ có dấu hiệu nhiễm nấm phải đến khám tại cơ sở y tế các bác sĩ sẽ chỉ định cho thuốc điều trị thích hợp.
Biện pháp phòng ngừa
Biện pháp chung giúp phòng ngừa viêm nhiễm do nấm là phải đảm bảo vệ sinh vùng kín sạch sẽ, khô thoáng sau khi đại, tiểu tiện hoặc tắm. Không nên mặc quần áo quá chật, nhất là trong những ngày hè nóng, không nên tắm ở hồ ao. Nên chọn đồ lót chất liệu cotton giúp thoáng khí. Sau mỗi lần vệ sinh, dùng giấy mềm không màu, không có chất khử mùi và lau từ trước âm hộ ra sau hậu môn giúp vùng kín khô hơn.
Ngoài ra, chị em cũng nên chú ý tất cả những biểu hiện khác thường ở vùng kín. Cần đến các cơ sở y tế ngay nếu phát hiện biểu hiện khác thường và nghiêm túc làm theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị. Cũng nên khám phụ khoa định kỳ để phát hiện bệnh sớm (nếu có) nhờ vậy giúp quá trình điều trị kịp thời và hiệu quả hơn.

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Ngứa trong thai kỳ

Một số thai phụ thấy lòng bàn tay, lòng bàn chân bị ửng đỏ và ngứa ngáy. Một số thai phụ khác lại bị chứng ngứa đi kèm với dấu hiệu phát ban toàn thân. Hiện tượng ngứa có thể gia tăng vào thời điểm lúc bạn vừa tắm xong hoặc trước khi đi ngủ.
Nguyên nhân
Do sự gia tăng hormone estrogen.
Dấu hiệu này có thể biến mất tự nhiên sau khi sinh.
Những yếu tố như thai phụ có tiền sử da khô, mắc chứng chàm bội nhiễm hoặc bị dị ứng thức ăn càng khiến tình trạng ngứa thêm tồi tệ.
 Trang phục phải thoáng mát để tránh mồ hôi.
Nhóm thai phụ mắc chứng ứ mật trong gan (mật kém lưu thông) cũng có thể bị khô da và ngứa. Chứng bệnh này có thể đi kèm dấu hiệu khác như: bạn mất cảm giác thèm ăn, buồn nôn, mệt mỏi, thậm chí là vàng da.
Viêm nang lông trong thai kỳ: chứng bệnh này khởi phát vào khoảng 3 tháng cuối thai kỳ. Dấu hiệu đi kèm là xuất hiện những sẩn mủ ở nang lông, gây ngứa.
Viêm da bọng nước: chứng bệnh này xuất hiện khoảng tuần thứ 20-21 của thai kỳ. Lúc đầu, bạn có thể thấy những mảng mề đay, mụn nước mọc quanh rốn, đùi. Sau đó, những mụn nước này lan sang bụng, lưng, bàn tay, bàn chân…
Ngoài ra, các nguyên nhân khác gây ngứa khi mang thai là: bạn bị đổ mồ hôi nhiều; bạn mắc bệnh trĩ, có thể gây ngứa hậu môn; bạn bị rạn da quá mức (thường xuất hiện trong những tháng cuối của thai kỳ), xuất hiện những mảng ngứa ở bụng, ngực, mông, đùi…
Giảm thiểu nguy cơ bị ngứa
Bạn nên tắm rửa sạch sẽ, mặc trang phục thông thoáng để tránh hiện tượng đổ mồ hôi. Bạn cũng nên tránh ra ngoài khi trời nắng hoặc cư trú trong những nơi nóng bức.
Bạn nên tránh tắm nước nóng lâu dưới vòi hoa sen hoặc ngâm mình lâu trong bồn tắm. Điều này chỉ khiến da bạn nhanh bị khô và càng thêm ngứa hơn.
Nếu dùng sữa tắm, bạn nên chọn loại có độ pH vừa phải. Một số loại sữa tắm không phù hợp có thể khiến da bạn bị khô và ngứa hơn. Để an toàn, bạn nên chọn loại sữa tắm không kích ứng (phù hợp với cả làn da mẫn cảm). Hoặc bạn có thể tắm với nước ấm mà không cần sữa tắm.
Bạn nên tránh các loại xà phòng hoặc các sản phẩm chăm sóc da có chứa nồng độ xút cao, dễ gây kích ứng.
Bạn có thể dùng một chiếc khăn mát hoặc một chiếc khăn ấm để chườm vào vùng da bị ngứa, giúp giảm bớt cơn ngứa. Hoặc bạn có thể dùng túi chườm mát hoặc túi chườm ấm để làm dịu cơn ngứa.
Bạn nên lưu ý tránh cào, gãi khi ngứa, nguyên nhân là càng gãi thì bạn lại càng ngứa hơn. Ngoài ra, nếu gãi nhiều sẽ khiến cho lớp da ở chỗ đó càng bị kích thích, dễ để lại di chứng về sau. Tốt nhất, bạn có thể lấy tay vỗ (chà) nhẹ vào chỗ ngứa. Bạn cũng nên cắt móng tay, vệ sinh bàn tay để tránh nhiễm trùng vào vùng da bị ngứa.
Để giảm ngứa do thay đổi độ pH âm đạo khi mang thai, bạn nên giữ vùng kín luôn được khô thoáng, sạch sẽ. Nếu muốn dùng dung dịch vệ sinh phụ nữ, nên chọn loại phù hợp nhưng không nên lạm dụng.
Bạn cũng nên tránh những loại thức ăn dễ gây dị ứng, tăng cường các loại thức ăn giàu vitamin A (có trong cá, trứng, các loại rau, củ)… cần uống nước đều đặn hàng ngày.
Một số loại kem bôi da, giúp chống rạn da và giữ ẩm có thể lạm dịu cơn ngứa. Với vùng bụng, bạn nên bôi (xoa) kem một cách nhẹ nhàng, tránh kích thích gây co bóp tử cung.
Nếu tình trạng ngứa trở nên nghiêm trọng, bạn nên nhờ bác sĩ tư vấn việc sử dụng thuốc. Bạn không nên tùy ý sử dụng thuốc, bởi vì phần lớn các loại thuốc trị ngứa có ngoài thị trường là dành cho người lớn và trẻ em trên 12 tuổi.
Lưu ý: Đa số các trường hợp bị ngứa khi mang thai đều an toàn cho sức khỏe của bé. Bất tiện duy nhất là nó khiến người mẹ mất yếu tố thẩm mỹ và khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày…
Dấu hiệu nên đi khám
Ngứa toàn thân đi kèm dấu hiệu vàng da: có thể bạn đang mắc phải chứng mật kém lưu thông.
Phát ban và sốt: có thể mắc chứng thủy đậu, herpes…
Ngứa đi kèm với tổn thương ngoài da: có thể mắc chứng chàm, vẩy nến…
Ngứa kèm theo dấu hiệu nóng rát âm đạo: có thể bị nhiễm nấm âm đạo hoặc mắc phải các chứng bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.

http://Tianshi.vn

http://Tianshi.com.vn